Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng và UBND tỉnh Cao Bằng tổ chức thành công Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Đô thị miền núi thích ứng với biến đổi khí hậu cực đoan”
Sự tàn phá ngày càng khốc liệt của các hình thái thời tiết cực đoan đang đặt hệ thống không gian đô thị miền núi Việt Nam trước những thách thức mang tính sinh tồn. Trong bối cảnh đó, Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Đô thị miền núi thích ứng với biến đổi khí hậu cực đoan” diễn ra ngày 17/04/2026 tại tỉnh Cao Bằng đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong công tác hoạch định chính sách, đề xuất cơ chế đáp ứng yêu cầu phát triển. Điểm nhấn làm nên chiều sâu chuyên môn của sự kiện chính là vai trò đồng chủ trì của Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng (Bộ Xây dựng) với UBND tỉnh Cao Bằng. Với việc quy tụ mạng lưới chuyên gia đa ngành và thực hiện quy trình thẩm định khoa học chặt chẽ, Học viện đã thiết lập một hệ thống lý luận vững chắc, hỗ trợ trực tiếp cho chính quyền địa phương trong việc tái thiết không gian đô thị.
Bối cảnh khốc liệt và sự cần thiết của một bệ phóng khoa học
Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới giữ vị trí chiến lược trọng yếu, với hơn 90% diện tích tự nhiên là đồi núi và địa hình karst chia cắt mạnh. Giai đoạn 2021-2025, địa phương ghi nhận những nỗ lực vượt bậc với tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức 4,46%, thu ngân sách năm 2025 đạt mức kỷ lục gần 4.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, những thành quả kinh tế - xã hội ấy đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng bởi sức tàn phá của thiên nhiên.
Chỉ tính riêng thiệt hại do bão số 3 Yagi (năm 2024) và các cơn bão số 10, số 11 (năm 2025), tỉnh Cao Bằng đã tổn thất trên 4.200 tỷ đồng, một con số tiệm cận với tổng thu ngân sách của địa phương trong năm 2025. Cụ thể hơn, trong năm 2025, Cao Bằng phải gánh chịu tới 22 đợt thiên tai, cướp đi sinh mạng của 8 người, làm bị thương 6 người và gây hư hỏng đối với hơn 9.000 ngôi nhà.
Đứng trước thực trạng hệ thống đô thị bị nén chặt trong các thung lũng hẹp ven sông và thường xuyên đối mặt với ngập lụt, sạt lở, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn khẳng định biến đổi khí hậu đã chính thức trở thành "yếu tố định hình phát triển đô thị" tại các tỉnh miền núi. Việc tìm kiếm một mô hình phát triển mới không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm thực tiễn đơn thuần mà đòi hỏi một nền tảng khoa học liên ngành. Trong bối cảnh đó, sự tham gia của Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng với tư cách là cơ quan tham mưu chính sách cấp quốc gia mang ý nghĩa chiến lược, đóng vai trò là "bộ lọc" tri thức và cầu nối thu hút nguồn lực trí tuệ cho địa phương.
Dấu ấn chuyên môn: Năng lực điều phối khoa học và kết nối chuyên gia của Học viện
Điểm khác biệt so với các hội thảo khác, sự kiện tại Cao Bằng được cấu trúc như một diễn đàn học thuật chuyên sâu. Vai trò của Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng không chỉ dừng lại ở công tác tổ chức, mà thể hiện đậm nét ở khâu điều phối chuyên môn, kết nối mạng lưới trí thức và định hướng các giải pháp vĩ mô.
Dấu ấn học thuật của Học viện được khẳng định thông qua quy trình tổ chức chuyên môn bài bản. Nắm bắt tính chất phức tạp của bài toán quy hoạch đô thị miền núi, Học viện đã chủ động kết nối, mời gọi sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành trong nước và các tổ chức quốc tế (như GIZ, UN-Habitat, AFD). Từ gần 50 bài tham luận chuyên sâu gửi về tham dự, Hội đồng khoa học của Học viện đã tiến hành công tác rà soát, phản biện và sàng lọc khắt khe. Kết quả, 35 bài nghiên cứu có hàm lượng khoa học cao nhất, đáp ứng các tiêu chuẩn lý luận và thực tiễn, đã được Học viện lựa chọn để đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Xây dựng và Đô thị. Đây là minh chứng rõ nét cho năng lực quản lý chất lượng học thuật, đảm bảo các định hướng chính sách đưa ra đều được xây dựng trên những luận cứ vững chắc, tránh tình trạng áp dụng máy móc.
Lãnh đạo Học viện đã trực tiếp điều hành các phân ban thảo luận trọng điểm tại Hội thảo, tạo nên một khung lý luận – thực tiễn hài hoà đi từ vĩ mô đến vi mô:
Giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng - TS. Ngô Anh Tuấn cam kết đồng hành cùng Cao Bằng nâng cao năng lực cán bộ, hướng tới xây dựng mô hình đô thị miền núi kiểu mẫu
Tại Tọa đàm Khuyến nghị chính sách, sự hiện diện của người đứng đầu Học viện: TS. Ngô Anh Tuấn - Giám đốc Học viện đóng vai trò then chốt. Với sự tham gia từ các tổ chức quốc tế và bài toán cần huy động nguồn vốn cho địa phương, TS. Ngô Anh Tuấn đã đưa ra những phân tích mang tính nền tảng. Ông nhấn mạnh: các định chế tài chính quốc tế không dừng lại ở những tuyên bố chung chung, mà đòi hỏi sự xác định ưu tiên đầu tư vô cùng rõ ràng từ chính quyền.
Giám đốc Học viện vạch ra ba điều kiện tiên quyết để Cao Bằng hấp thụ thành công dòng vốn ngoại khối: Thứ nhất, phải minh bạch về nguồn lực đối ứng. Thứ hai, thiết lập hệ thống vận hành có đầu mối kỹ thuật cụ thể, phân định rõ thẩm quyền quyết định và trách nhiệm giải trình. Thứ ba, trọng tâm cốt lõi là địa phương phải chứng minh được năng lực tiếp nhận công nghệ và thực thi dự án. Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn này, TS. Ngô Anh Tuấn cam kết Học viện sẵn sàng thiết kế các chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, đồng hành cùng địa phương để đưa Cao Bằng trở thành mô hình quy hoạch kiểu mẫu của Việt Nam.
Kiến tạo không gian qua lăng kính của PGS.TS.KTS. Nguyễn Vũ Phương - Phó Giám đốc Học viện: Tại Phiên thảo luận thứ nhất, ông đã mang đến một tham luận mang tính bước ngoặt, chính thức đề xuất "Mô hình lãnh thổ thông minh 'Sống cùng nước' cho hệ thống đô thị miền núi tỉnh Cao Bằng thích ứng khí hậu cực đoan".
PGS.TS.KTS. Nguyễn Vũ Phương - Phó Giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng trình bày tham luận, kiến tạo triết lý quy hoạch "Sống cùng nước" cho hệ thống đô thị miền núi Cao Bằng
Thay vì tiếp cận theo lối mòn truyền thống, PGS.TS. Nguyễn Vũ Phương đã thẳng thắn chỉ ra sự bất cập của tư duy quy hoạch cũ. Đối với một địa phương có cấu trúc địa hình karst chia cắt mạnh, độ dốc lớn và hệ thống sông suối dày đặc như Cao Bằng, việc cố gắng chống lại sức mạnh của tự nhiên bằng hệ thống "hạ tầng xám" cứng nhắc (như đê kè bê tông khổng lồ hay bạt núi san lấp nâng cao độ nền) không chỉ tiêu tốn nguồn lực mà còn phá vỡ cấu trúc sinh thái, gia tăng nguy cơ sạt trượt,,. Từ đó, ông kiến tạo một triết lý quy hoạch hoàn toàn mới: "Sống cùng nước". Triết lý này đòi hỏi các nhà quản lý phải tôn trọng tuyệt đối hình thái tự nhiên, lấy việc quản trị lưu vực dòng chảy và sức chịu tải sinh thái làm hạt nhân của mọi đồ án quy hoạch. Không gian đô thị cần được thiết kế linh hoạt để chủ động "nhường chỗ" cho lưu thủy trong những thời điểm xảy ra mưa lũ cực đoan, biến thách thức ngập lụt thành một phần của chu trình vận hành đô thị.
Bên cạnh năng lực lý luận, dấu ấn học thuật của PGS.TS. Nguyễn Vũ Phương còn được thể hiện đậm nét khi ông trực tiếp đảm nhận vai trò chủ tọa tại hai diễn đàn trọng điểm nhất: Tọa đàm 1 (Quy hoạch không gian) và Tọa đàm 4 (Khuyến nghị chính sách). Tại Tọa đàm 1, ông đã khéo léo điều phối, kết nối tri thức bản địa với kinh nghiệm quốc tế, tạo ra sự đồng thuận sâu sắc giữa đại diện tổ chức GIZ, Viện Quy hoạch quốc gia và chuyên gia cảnh quan Kelly Shannon... Thông qua định hướng của ông, chiến lược quy hoạch của Cao Bằng được thống nhất phải lồng ghép chặt chẽ hệ thống tri thức sinh thái truyền thống vào việc chống chịu rủi ro.
Tiếp đó, tại Tọa đàm 4, ông đóng vai trò là "nhịp cầu" chuyển hóa trực tiếp lý luận không gian thành quyết sách hành động,. Dưới sự gợi mở sắc bén của ông, bài toán quy hoạch đã gắn liền với các đột phá về thể chế, cơ chế điều phối liên ngành và phương thức lồng ghép các nguồn vốn ODA vào phát triển đô thị.
Thành công lớn nhất từ những luận điểm của PGS.TS.KTS. Nguyễn Vũ Phương chính là mức độ thẩm thấu trực tiếp vào tư duy quản trị của ban lãnh đạo địa phương. Triết lý "Sống cùng nước" của ông đã được TS. Lê Hải Hòa, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng, tiếp thu sâu sắc và đúc kết thành phương châm hành động mới: chuyển từ ứng phó thụ động sang phát triển thuận theo quy luật tự nhiên. Quan trọng hơn, chính nền tảng lý luận này là cơ sở khoa học cốt lõi để chính quyền tỉnh tự tin đề xuất chiến lược "Ngập có kiểm soát" – một giải pháp quy hoạch chưa từng có tiền lệ, chấp nhận sự lưu giữ nước cục bộ với mức độ nông và thời gian tiêu thoát nhanh, nhằm bảo vệ cấu trúc dân cư và sinh kế dài hạn cho người dân vùng phên dậu,
Tháo gỡ điểm nghẽn kỹ thuật và tài chính cùng TS. Phạm Văn Bộ - Phó Giám đốc Học viện: Để biến mô hình "Sống cùng nước" thành hiện thực, TS. Phạm Văn Bộ chịu trách nhiệm điều phối Phiên toạ đàm các giải pháp hạ tầng thích ứng, bao gồm phát triển hạ tầng xanh và cấu trúc đô thị bọt biển (Sponge city). Đi sâu vào rào cản thực tiễn, ông đã phân tích những giới hạn trong việc huy động tài chính đô thị miền núi, đồng thời gợi mở các cơ chế tận dụng nguồn lực liên vùng để đầu tư hệ thống hạ tầng chống chịu.
TS. Phạm Văn Bộ - Phó Giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng điều hành Tọa đàm về hạ tầng thích ứng, định hướng phát triển mô hình "đô thị bọt biển" (Sponge city) tại khu vực miền núi
Nền tảng quản trị rủi ro số hóa từ định hướng của TS. Lưu Đức Minh - Phó Giám đốc Học viện: Đại diện cho mũi nhọn công nghệ, TS. Lưu Đức Minh chỉ ra sự cấp thiết của việc áp dụng dữ liệu và mô hình hóa. Ông khẳng định vai trò quyết định của Hệ thống thông tin địa lý (GIS), Mô hình thông tin thành phố (CIM) và Bản sao số đô thị (Digital Twin) trong việc định hình lại phương pháp lập quy hoạch truyền thống. Nhãn quan này yêu cầu chuyển dịch phương thức quản lý từ phản ứng thụ động sang cảnh báo sớm và kiểm soát đa rủi ro từ cấp lưu vực sông.
Điều hành Tọa đàm chuyên đề về Dữ liệu và Công nghệ số, TS. Lưu Đức Minh kiến nghị địa phương khẩn trương xây dựng nền tảng dữ liệu quản trị đa rủi ro từ cấp lưu vực sông thay vì giới hạn trong ranh giới hành chính
Sự đóng góp trí tuệ từ mạng lưới chuyên gia trong nước và quốc tế
Từ sự kết nối của Học viện Xây dựng, Hội thảo đã trở thành không gian hội tụ của những chuyên gia hàng đầu. Các chuyên gia đã cung cấp những mảnh ghép quan trọng để hoàn thiện bức tranh quy hoạch.
GS.TS Trần Thục (Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam) đã mang đến những cảnh báo sâu sắc về sự thay đổi của các hiện tượng thời tiết. Ông chỉ ra rằng tần suất rủi ro thiên tai đã rút ngắn đáng kể, không còn ở mức xác suất 1% theo các kịch bản cũ. Chuyên gia này đặc biệt lưu ý chính quyền về các "tổn thất phi kinh tế", cảnh báo rủi ro xói mòn cấu trúc văn hóa của các cụm dân cư bản địa nếu phải tiến hành di dời liên tục.
Về mặt hạ tầng, GS.TS Nguyễn Việt Anh (ĐH Xây dựng Hà Nội) xây dựng khung quản lý thoát nước mưa bền vững, hướng tới mô hình "đô thị bọt biển miền núi". Đồng thời, trong lĩnh vực an toàn địa kỹ thuật, GS.TS Đỗ Minh Đức và GS.TS Nguyễn Đức Mạnh đã công bố các nghiên cứu ứng dụng tích hợp dữ liệu lớn, vạn vật kết nối (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) để phân vùng, cảnh báo nguy cơ sạt lở đất tại Cao Bằng.
Đặc biệt, sự tham gia của giới chuyên gia quốc tế đã cung cấp những góc nhìn toàn cầu. Ông Daniel Herrmann (Trưởng bộ phận Chính sách Khí hậu, GIZ Việt Nam) tư vấn các giải pháp lồng ghép chính sách thích ứng vào quy hoạch. Bà Kelly Shannon (Chuyên gia cao cấp, Research Urbanism & Architecture) giới thiệu phương pháp "Đô thị cảnh quan dựa trên tri thức bản địa", gợi mở việc ứng dụng các tập quán sinh thái truyền thống vào ứng phó biến đổi khí hậu.
Sự chuyển dịch tư duy và quyết sách đột phá từ chính quyền địa phương
Hệ thống luận cứ khoa học sắc bén được Học viện thẩm định và điều phối đã trực tiếp thúc đẩy sự thay đổi toàn diện trong tư duy quản trị của chính quyền tỉnh Cao Bằng. Tại phiên bế mạc, TS. Lê Hải Hòa - Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng - đã đưa ra nhiều định hướng chiến lược mới, minh chứng cho việc lý luận khoa học đã được chuyển hóa thành cơ chế hành động.
Tại phiên bế mạc, TS. Lê Hải Hòa, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng kiến nghị Trung ương sớm nghiên cứu, ban hành một Chương trình cấp quốc gia về phát triển đô thị miền núi thích ứng biến đổi khí hậu cực đoan
Thứ nhất, chính quyền tỉnh tuyên bố loại bỏ hoàn toàn các hoạt động quy hoạch được giới chuyên môn định nghĩa là "thích ứng sai". Tỉnh Cao Bằng sẽ từ bỏ phương thức quy hoạch dựa trên việc san gạt, hạ thấp cao độ đồi núi – một phương pháp vừa lãng phí nguồn lực, vừa phá vỡ cấu trúc lưu trữ nước tự nhiên. Đồng thời, địa phương kiên quyết đình chỉ việc bố trí các dự án đô thị xuống những vùng trũng thấp ven sông nằm trong cảnh báo rủi ro, chuyển đổi công năng các khu vực này thành không gian công viên sinh thái.
Thứ hai, tiếp thu trực tiếp triết lý "sống cùng nước" từ các nhà khoa học, Chủ tịch UBND tỉnh định hình một chiến lược thực tiễn: Mô hình "Ngập có kiểm soát". Đánh giá khách quan rằng việc di dời toàn bộ cư dân khỏi các vùng hạ lưu là bất khả thi trong điều kiện hiện tại, chính quyền định hướng thiết kế không gian đô thị chấp nhận ngập lụt ở một số thời điểm. Tuy nhiên, các giải pháp kỹ thuật phải đảm bảo mức nước ngập nông hơn và thời gian tiêu thoát nhanh nhất, tuyệt đối ngăn chặn tình trạng ngập lụt cực đoan gây tàn phá sinh kế của người dân.
Thứ ba, để giải quyết bài toán song hành giữa bảo đảm an toàn sinh mạng và giữ vững quốc phòng an ninh vùng biên giới, chính quyền đề xuất kiến tạo hệ thống Công trình đa năng có công năng mở rộng. Theo đó, thay vì di dời triệt để làm mất đi các cụm dân cư ("cột mốc sống"), hệ thống trường học, nhà văn hóa, đồn biên phòng tại vùng xung yếu sẽ được đầu tư kiên cố hóa. Trong điều kiện bình thường, hệ thống này duy trì mục tiêu dân sinh; khi đối mặt thiên tai, công trình lập tức chuyển đổi thành không gian trú ẩn an toàn.
Giải quyết lực cản thể chế và kiến tạo tầm nhìn vĩ mô
Thông qua lăng kính quản trị rủi ro đa ngành, Hội thảo đã nhận diện ra nhiều lực cản mang tính hệ thống. Lãnh đạo tỉnh Cao Bằng thẳng thắn chỉ ra sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp liên ngành. Việc thiết lập một hệ thống "đô thị bọt biển" đòi hỏi sự tích hợp chặt chẽ giữa hạ tầng xanh (hệ thống sông suối), hạ tầng xanh lá (công viên) và hạ tầng xám (cống, kè). Tuy nhiên, các cấu phần này lại chịu sự quản lý phân mảnh bởi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Xây dựng. Từ đó, tỉnh yêu cầu chuyển dịch sang cơ chế điều phối tổng hợp, lấy quản trị lưu vực sông làm trung tâm và khắc phục tình trạng thiếu phối hợp liên ngành.
Về phương diện đầu tư công, cơ chế tài chính phòng, chống thiên tai hiện nay đang bộc lộ một vòng lặp kém hiệu quả: nguồn ngân sách chủ yếu được phân bổ để khắc phục, sửa chữa sự cố sau thảm họa, nhưng địa phương lại gặp rào cản pháp lý khi muốn dùng nguồn vốn này để xây dựng các công trình mang tính thích ứng dài hạn. Tỉnh Cao Bằng khẩn thiết kiến nghị các bộ, ngành Trung ương tháo gỡ điểm nghẽn này, trao quyền tự chủ linh hoạt hơn cho địa phương trong việc phân bổ vốn đầu tư công hướng tới mục tiêu phòng ngừa chủ động.
Hội thảo khoa học cấp quốc gia tại Cao Bằng không dừng lại ở một diễn đàn thảo luận thông thường, mà thực sự là mốc son định hình lại chiến lược quy hoạch đô thị miền núi. Dựa trên các nền tảng khoa học vững chắc, UBND tỉnh Cao Bằng đã chính thức kiến nghị Trung ương xem xét, ban hành một Chương trình cấp quốc gia về phát triển đô thị miền núi thích ứng với biến đổi khí hậu cực đoan.
Chính quy trình sàng lọc học thuật nghiêm túc, khả năng quy tụ trí tuệ và tầm nhìn vĩ mô của Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng đã tạo ra bệ phóng vững chắc cho các quyết sách của địa phương. Sự cộng hưởng giữa tri thức khoa học và quyết tâm chính trị kiên định của tỉnh Cao Bằng chắc chắn sẽ tạo ra những bước ngoặt thực tiễn, chuyển hóa những thách thức khắc nghiệt của biến đổi khí hậu thành động lực kiến tạo nên mạng lưới đô thị miền núi an toàn, sinh thái và phát triển bền vững.
Lãnh đạo tỉnh Cao Bằng, Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng cùng đội ngũ chuyên gia đa ngành chụp ảnh lưu niệm, đánh dấu sự thống nhất nhận thức trong việc kiến tạo đô thị miền núi thích ứng biến đổi khí hậu
Bùi Cường - ACST
.jpg)
Thêm bình luận mới