Xanh hơn, thông minh hơn, đáng sống hơn: Tầm nhìn Việt Nam đến năm 2045
Từ 862 đô thị vào cuối năm 2020, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ đô thị hóa theo chiều rộng sang phát triển đô thị có chất lượng, xanh hơn, thông minh hơn và bao trùm hơn. Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, trong đó quy hoạch phải đi trước một bước, còn chất lượng sống của người dân là trung tâm của mọi quyết định phát triển.
Từ động lực tăng trưởng đến bài toán chất lượng
Sau hơn 35 năm đổi mới, đặc biệt trong một thập niên trước thời điểm ban hành Nghị quyết 06-NQ/TW, đô thị hóa đã trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Đến cuối năm 2020, cả nước có 862 đô thị các loại. Tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Khu vực đô thị đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, đồng thời tập trung nhiều trung tâm giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đằng sau những con số đó là một vai trò đã đổi khác. Đô thị trở thành không gian sản xuất, dịch vụ, sáng tạo và kết nối các vùng kinh tế. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu hình thành các cực tăng trưởng lớn, còn nhiều đô thị khác đang đảm nhiệm vai trò trung tâm vùng, trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch và logistics.
Nhưng tốc độ mở rộng không gian đô thị chưa đồng nghĩa với chất lượng phát triển. Nghị quyết 06-NQ/TW thẳng thắn chỉ ra tình trạng đô thị hóa còn thấp so với mục tiêu và mức bình quân của khu vực, trong khi phát triển theo chiều rộng vẫn phổ biến. Hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chưa đồng bộ; giao thông, nhà ở, trường học, cơ sở y tế và dịch vụ công chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của dân số đô thị ngày càng tăng.
Các đô thị lớn còn phải đối mặt với ô nhiễm môi trường, ùn tắc, áp lực lên đất đai và nguy cơ từ biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh. Người nghèo, lao động di cư và lao động phi chính thức vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận nhà ở, dịch vụ công và phúc lợi xã hội. Ở một số nơi, năng lực quản lý và quản trị đô thị còn chậm đổi mới, công tác quy hoạch thiếu tầm nhìn dài hạn, việc điều chỉnh quy hoạch chưa thật minh bạch và tình trạng đầu tư dàn trải vẫn tồn tại.
Từ điểm xuất phát đó, Nghị quyết 06-NQ/TW mở ra yêu cầu xây dựng mạng lưới đô thị xanh, hiện đại, thông minh, giàu bản sắc và có khả năng chống chịu.
Điểm xuất phát của đô thị Việt Nam: một bên là động lực tăng trưởng, một bên là sức ép về hạ tầng, môi trường và quản trị
Những con số định hình đô thị tương lai
Cùng với tầm nhìn, Nghị quyết 06-NQ/TW xác lập các chỉ tiêu cụ thể cho năm 2025 và năm 2030. Đây là cơ sở để chuyển các định hướng lớn thành mục tiêu có thể theo dõi, đánh giá và gắn với chương trình đầu tư, quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương.
|
Chỉ tiêu |
Năm 2025 |
Năm 2030 |
|
Tỷ lệ đô thị hóa |
Tối thiểu 45% |
Trên 50% |
|
Số lượng đô thị |
Khoảng 950–1.000 |
Khoảng 1.000–1.200 |
|
Cây xanh bình quân |
Khoảng 6–8 m²/người |
Khoảng 8–10 m²/người |
|
Đất giao thông trên đất xây dựng đô thị |
Khoảng 11–16% |
Khoảng 16–26% |
|
Sàn nhà ở bình quân |
Tối thiểu 28 m²/người |
Tối thiểu 32 m²/người |
|
Kinh tế đô thị đóng góp vào GDP cả nước |
Khoảng 75% |
Khoảng 85% |
|
Dân số trưởng thành đô thị có tài khoản thanh toán điện tử |
Trên 50% |
Trên 80% |
Đọc kỹ nhóm chỉ tiêu, có thể thấy đô thị hóa không được đo bằng số lượng đô thị đơn thuần. Cùng với mục tiêu nâng tỷ lệ đô thị hóa lên trên 50% vào năm 2030, Nghị quyết đặt trọng tâm vào cây xanh, giao thông, nhà ở, hạ tầng số và sức đóng góp của kinh tế đô thị.
Một đô thị phát triển bền vững vì thế phải tạo thêm không gian công cộng, nâng chất lượng nhà ở, mở rộng giao thông và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ số. Mục tiêu kinh tế đi cùng mục tiêu xã hội: tăng trưởng khu vực đô thị phải chuyển hóa thành chất lượng sống tốt hơn, cơ hội việc làm rộng hơn và khả năng tiếp cận dịch vụ công công bằng hơn.
Nhóm chỉ tiêu của Nghị quyết trình bày như một "bảng điều khiển" cho giai đoạn 2025–2030: đô thị cần lớn hơn, đồng thời xanh hơn, tiện nghi và số hóa hơn
Đô thị đáng sống bắt đầu từ khả năng chống chịu và sự bao trùm
Tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới một hệ thống đô thị có mạng lưới đồng bộ, cân đối giữa các vùng miền, đủ sức chống chịu trước biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển phù hợp với đặc điểm từng vùng, nhất là các khu vực ven biển, Đồng bằng sông Cửu Long và những vùng sinh thái dễ bị tổn thương.
Trụ cột đầu tiên là khả năng chống chịu khí hậu. Quy hoạch đô thị cần tính đến cao độ nền, thoát nước, nguồn nước ngọt, hành lang sông biển, vùng ngập và các kịch bản thiên tai. Hạ tầng không thể chỉ thiết kế cho điều kiện bình thường; nó phải đủ sức vận hành khi mưa lớn, ngập lụt, nắng nóng cực đoan, dịch bệnh hay gián đoạn chuỗi cung ứng xảy ra.
Kế đến là hạ tầng xanh và giao thông sạch. Nghị quyết đề cập vật liệu xanh, công trình xanh, năng lượng xanh, giao thông công cộng, khai thác không gian ngầm, ngầm hóa đường dây và cáp dịch vụ. Việc phân loại chất thải rắn tại nguồn, giảm thải, tái sử dụng và tái chế cũng nằm trong tổng thể phát triển đô thị. Cách làm này chuyển trọng tâm từ xử lý hậu quả sang thiết kế một hệ thống đô thị ít phát sinh ô nhiễm ngay từ đầu.
Trụ cột thứ ba là thành phố số. Hệ thống dữ liệu toàn quốc về quy hoạch và phát triển đô thị, ứng dụng GIS, cảm biến, nền tảng số dùng chung và chính quyền số sẽ giúp nâng chất lượng ra quyết định. Khi dữ liệu quy hoạch được công khai, cập nhật và dễ tiếp cận, người dân, doanh nghiệp và các cơ quan giám sát có thêm cơ sở để phản biện, theo dõi và phát hiện bất cập.
Cuối cùng, con người được đặt ở trung tâm. Một đô thị đáng sống phải có nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, trường học, cơ sở y tế, không gian văn hóa và các dịch vụ xã hội cơ bản. Quyền cư trú, khả năng hòa nhập của lao động di cư, cơ hội học nghề và việc làm cho người bị thu hồi đất, bình đẳng giới trong tiếp cận cơ hội đô thị — tất cả đều gắn liền với phát triển bền vững.
Nghị định 11/2013/NĐ-CP cũng đặt ra những nguyên tắc quan trọng với đầu tư phát triển đô thị: phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và kiến trúc cảnh quan; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực; bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và tạo môi trường sống tốt cho cư dân đô thị [2]. Những nguyên tắc này kết nối tầm nhìn của Nghị quyết 06 với yêu cầu quản lý và triển khai dự án trong thực tế.
Bản sắc một đô thị, vì thế, nằm ở sự công bằng, an toàn và gắn kết cộng đồng, không riêng ở những tòa nhà cao tầng.
Đô thị đáng sống qua bốn trụ cột: chống chịu khí hậu; hạ tầng xanh và giao thông sạch; thành phố số; con người ở trung tâm
Từ định hướng đến thực thi: quy hoạch phải đi cùng nguồn lực
Một nghị quyết chỉ tạo ra thay đổi khi được chuyển hóa thành chương trình, quy định, nguồn lực và trách nhiệm cụ thể. Ngày 11/11/2022, Chính phủ ban hành Nghị quyết 148/NQ-CP kèm Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TW [1]. Văn bản này bắc cầu giữa định hướng của Bộ Chính trị với chương trình triển khai của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương.
Ở lớp công cụ quản lý, Nghị định 11/2013/NĐ-CP điều chỉnh các hoạt động liên quan đến quy hoạch đô thị, hình thành và công bố kế hoạch triển khai khu vực phát triển đô thị, thực hiện đầu tư xây dựng, vận hành, khai thác và chuyển giao các dự án đầu tư phát triển đô thị [2]. Đây là một văn bản nền để nhìn ra mối liên hệ giữa quy hoạch, đất đai, hạ tầng và dự án.
Nghị định 35/2023/NĐ-CP, Chính phủ ban hành ngày 20/6/2023, sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng [3]. Trong truyền thông chính sách, cần phân biệt rõ vai trò từng văn bản: các chỉ tiêu như tỷ lệ đô thị hóa, cây xanh, đất giao thông, nhà ở hay đóng góp GDP là mục tiêu của Nghị quyết 06-NQ/TW, không nên gán trực tiếp cho Nghị định 35/2023/NĐ-CP.
Ở cấp địa phương, việc thực hiện cần gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, chương trình phát triển đô thị, dữ liệu quản lý và cơ chế giám sát. Nghị quyết 06-NQ/TW cũng nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu, yêu cầu xử lý nghiêm các vi phạm quy hoạch, dự án chậm triển khai và những sai phạm trong quản lý đất đai.
Cùng với Nhà nước, người dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp đều có vai trò trong quá trình này. Quy hoạch cần công khai, minh bạch và dễ tiếp cận; người dân cần cơ hội tham gia phản biện và giám sát; doanh nghiệp cần được khuyến khích đầu tư vào hạ tầng, nhà ở xã hội, dịch vụ đô thị và các mô hình kinh tế xanh, kinh tế số.
Lộ trình bốn bước: định hướng bằng Nghị quyết 06-NQ/TW; cụ thể hóa bằng Nghị quyết 148/NQ-CP; vận hành bằng hệ thống công cụ quản lý (trong đó có Nghị định 11/2013/NĐ-CP và 35/2023/NĐ-CP); và thực thi ở địa phương với quy hoạch, dữ liệu, nguồn lực, giám sát cộng đồng, trách nhiệm người đứng đầu
Một tầm nhìn dài hạn cho không gian sống của người dân
Đến năm 2045, Nghị quyết 06-NQ/TW hướng tới một hệ thống đô thị Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của ASEAN và châu Á về tỷ lệ đô thị hóa. Mạng lưới đô thị được kỳ vọng đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng miền, có khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời bảo vệ môi trường và phát huy bản sắc văn hóa.
Tầm nhìn đó đòi hỏi một cách tiếp cận khác với tư duy chạy theo quy mô. Một đô thị thành công không đo bằng số lượng dự án, chiều cao công trình hay tốc độ tăng giá đất, mà bằng chất lượng giao thông, khả năng tiếp cận nhà ở, mức độ an toàn, không gian xanh, chất lượng không khí, dịch vụ y tế – giáo dục và cơ hội tham gia của người dân.
Nếu quy hoạch đi trước một bước, dữ liệu được dùng minh bạch, hạ tầng được đầu tư đồng bộ và các nhóm yếu thế được đặt ở trung tâm, đô thị hóa sẽ không dừng ở việc tạo ra những cực tăng trưởng mới. Quá trình đó còn có thể hình thành một không gian sống nhân văn hơn, giàu bản sắc hơn và đủ sức chống chịu trước những biến động ngày càng phức tạp của tương lai.
.png)



Thêm bình luận mới